Thứ năm, 18/09/14

Phát triển kinh tế tri thức: Cơ hội và thách thức của Việt Nam


Sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức là xu thế tất yếu khách quan của xã hội loài người. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và ngày càng nhanh chóng như hiện nay, quốc gia nào đi nhanh vào nền kinh tế tri thức, quốc gia đó sẽ có lợi thế trên mọi mặt. Thông qua quan điểm và những phân tích, đánh giá của mình, tác giả khẳng định: “Kinh tế tri thức là thời cơ lớn và thách thức gay gắt đối với nước ta. Chần chừ, chậm chạp trên đường mòn cũ, không kiên quyết, mạnh dạn đổi mới, để bỏ lỡ cơ hội này, đất nước sẽ tụt hậu xa hơn nữa, và không tránh khỏi sự lệ thuộc”.

Khái quát về nền kinh tế tri thức đầu thế kỷ XXI

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế tri thức toàn cầu phát  triển  mạnh mẽ hơn để đối phó với những thách thức: biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, gia tăng dân số, khủng hoảng kinh tế toàn cầu... Cần có nguồn lực mới, cách sản xuất kinh doanh  mới, dựa chủ yếu vào vốn con người, vốn xã hội, giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên không tái tạo, chấm dứt cách sản xuất và tiêu dùng phung phí tài nguyên, năng lượng. Có thể điểm qua một vài ưu việt của nền kinh tế tri thức so với nền kinh  tế  công nghiệp, mà những nước đi sau phải cố gắng bắt kịp để phát triển nhanh đất nước:     

- Việc tạo ra của cải, giá trị mới và nâng cao năng lực cạnh tranh không phải chủ yếu do tối ưu hóa, hoàn thiện, hạ giá thành cái đã có mà chủ yếu là do sáng tạo ra cái mới. Đổi mới sáng tạo (innovation) trở thành động lực chủ yếu của sự tăng  trưởng và  phát  triển. Doanh nghiệp phải đầu tư  cho vốn tri  thức, phát triển vốn tri thức, không ngừng đổi mới, phấn đấu để có công nghệ mới, sản phẩm mới, cách thức kinh doanh mới, tạo sự khác biệt, trở thành duy nhất.  Công nghệ đổi mới  rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn. Tốc độ là trên hết. Chậm trễ đồng nghĩa với thất bại. Đổi mới để phát triển, là phá vỡ sự cân bằng tạm thời, cục bộ để đạt tới sự cân bằng tổng thể vững chắc hơn; “sự phá hủy có tính sáng tạo” trở thành nguyên tắc của sự phát triển: sợ mất ổn định mà không đổi mới thì sẽ trì trệ, và sẽ suy vong!    

- Vốn con người, vốn tri thức xã hội là nguồn lực cơ bản  của  phát  triển.  Tài nguyên là có hạn, tri thức, sự sáng tạo là vô hạn. Một khi tri thức trở thành nguồn lực chủ  yếu  của  nền  kinh  tế  thì  tiêu  hao tài  nguyên  giảm đến tối thiểu mà giá trị tạo ra sẽ tăng tối đa. Cạnh tranh kinh tế ngày nay là cạnh tranh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ  (KH&CN).  Một  cuộc  cải  cách sâu rộng đang diễn ra trong giáo dục từ hai thập kỷ nay với hai thay đổi lớn: chuyển từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng năng lực, chuyển từ chế độ học một lần trên ghế nhà trường sang học tập suốt đời.

- Hai công cụ lao động quan trọng nhất là bộ óc con người và mạng thông tin toàn cầu. Ai cũng có, cũng có thể sử dụng, nhưng cơ hội không như nhau, thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng lực từng người.

-  Tài sản vô hình tăng nhanh hơn nhiều so với  tài sản hữu hình. Tính chung cho các nước phát triển: trước năm 1985 công nghệ thông tin và công nghệ cao chưa phát triển, tài sản vô hình chiếm tỷ lệ rất thấp và tăng trưởng chậm, đến 1985  chỉ chiếm khoảng 20% GDP. Sau đó trong 10 năm tăng  12%,  đến năm 1995 đạt khoảng 32% (đó là thời kỳ máy tính cá nhân phát triển mạnh). 10 năm tiếp theo tỷ lệ này tăng 23%, năm 2005 đạt khoảng 55% (thời kỳ internet phủ khắp toàn cầu); từ năm 2005 đến 2011 dao động ở mức 55-57%.  Dự báo năm 2020 sẽ là 70%.

Trong tài sản vô hình thường có khoảng 55% là tài sản từ ứng dụng công nghệ thông tin và quyền sở hữu trí tuệ (patent,  know-how, bản quyền, kiểu dáng công nghiệp...), phần còn lại là do thương hiệu, uy tín, chiến lược, mô hình tổ chức quản lý, quan hệ khách hàng... gọi chung là sự tinh vi trong kinh doanh. Tất cả những tài sản vô hình đó đều là do năng lực sáng tạo của con người, là tài sản trí tuệ.

- Rất nhiều nước đã đi nhanh vào nền kinh tế tri thức. Nếu tính theo hàm lượng tri thức hay tài sản trí tuệ trong GDP, thì nhiều nước trong khối OECD đã là nền kinh tế tri thức (tài sản trí tuệ chiếm trên 2/3 GDP). Theo chỉ số kinh tế tri thức (KEI) của Ngân hàng thế giới (WB) thì năm 2012 đã có 29 nước và vùng lãnh thổ đạt KEI từ 8,0 đến 9,43 (Thụy Điển xếp thứ nhất, Đài Loan thứ 13, Hongkong thứ 18, Singapore